1. Nguyên tắc đầu tiên, không được bê nguyên một đoạn của ai đó làm của mình. Cần đọc hiểu trước, sau đó biến đổi đoạn văn, câu văn, cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận,... theo cách của riêng mình.
Nguyên tắc này rất quan trọng, vì nó liên quan đến bản quyền.
2. Viết cái gì ra thì phải hiểu cái đó. Đặt mình là người đọc, họ đọc đoạn đó, trang đó,... họ có hiểu được không? Luôn luôn có ý thức làm người khác hiểu vấn đề mình cần truyền đạt.
(Kinh nghiệm sẽ được biên tập tiếp theo)
Luật An ninh mạng; Công cụ, phương pháp, kỹ thuật An ninh mạng; Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; bảo vệ lý luận, chính trị, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trên không gian mạng; Tuyên truyền gương người tốt việc tốt,...
Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015
Thư gửi ngày 8-3-2015
Lặng nghe tôi kể chuyện Mỵ Châu
Trái tim nhầm chỗ đặt lên đầu
Nỏ thần sơ ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
Trái tim nhầm chỗ đặt lên đầu
Nỏ thần sơ ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
NCKH là gì?
Khái niệm đề tài: Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức NCKH này như sau:
Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.
Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, ... Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.
Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu: Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
- Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi "nhằm vào việc gì?", hoặc "để phục vụ cho điều gì?" và mang ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
- Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
- Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
- Đề tài: "Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông ở Đồng Bằng Sông Cửu Long".
- Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.
- Mục tiêu của đề tài:
- Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu.
- Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu.....................
- ..........................................
- NCKH Là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.
Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015
Phân loại tài liệu đang có hết sức quan trọng
|
Từ khóa tiếng Việt
|
Từ khóa Tiếng Anh
|
Số thứ tự tài liệu
|
|
Phân loại
|
Classification
|
5, 6, 11, 12, 18, 19, 22, 23, 25, 26,
29, 33, 39
|
|
Phát hiện:
|
Detection
|
2, 3, 5 ,8, 9, 19, 21, 23, 24, 25,
28 , 31, 33, 40.
|
|
Theo dõi
|
Tracking
|
2, 5, 10, 14, 16, 19, 20, 23, 27,
29, 31, 42, 43, 44
|
|
Hệ tọa độ 3D
|
3D coordinate system
|
17, 22, 34, 36, 45, 49
|
|
Luồng quang học:
|
Optical Flow
|
2, 4, 15, 52
|
|
Giao thông
|
Traffic
|
10, 11, 14, 15, 17, 18, 20, 21,
22, 23, 25, 27, 29, 30, 31, 40, 41, 42, 43
|
|
Tìm kiếm ảnh dựa trên nội dung
|
Retrieval Image based Content
|
|
|
Đường biên
|
Edge
|
1
|
|
Trừ nền
|
Subtraction
|
2, 3, 6, 8, 9, 12, 28, 39, 41, 43
|
|
Hệ thống giám sát
|
Seveilance / Monitoring System
|
7, 29, 48, 51
|
|
Bộ lọc Kalman
|
Kalman Filter
|
16
|
|
Nhận dạng phương tiện
|
Vehicle identification
|
26, 31, 34, 35, 36, 37, 42, 49
|
|
Nhận dạng mặt người, cử chỉ người
|
Face recognition, action of human
|
38, 51
|
|
GMM
|
Gauss Mixel Model
|
28
|
|
Đặc trưng hình dạng
|
Characteristic shape
|
46, 49, 50, 51, 52, 53, 55
|
|
Thị giác máy tính
|
Computer Vision
|
47, 51
|
|
Mô men bất biến
|
Moment invariants
|
53
|
|
Máy ảnh
|
camera
|
54
|
Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015
BackUp dữ liệu - điều cần thiết
- Ngày 11.3.2015 đã backup 2 thư mục quan trọng trong USB sang máy LABTOP: TruyenThongDPT và LuanAn_NVC
- Ngày 14.3.2015 đã backup 3 thư mục quan trọng trong USB sang máy bàn ở nhà: TruyenThongDPT, NCS.NguyenDangThe và LuanAn_NVC
Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015
SDU service data unit
In Open Systems Interconnection (OSI) terminology, a service data unit (SDU) is a unit of data that has been passed down from an OSI layer to a lower layer and that has not yet been encapsulated into a protocol data unit (PDU) by the lower layer. It is a set of data that is sent by a user of the services of a given layer, and is transmitted semantically unchanged to a peer service user.
It differs from a PDU in that the PDU specifies the data that will be sent to the peer protocol layer at the receiving end, as opposed to being sent to a lower layer.
The SDU at any given layer, layer 'n', is the PDU of the layer above, layer 'n+1'. In effect the SDU is the 'payload' of a given PDU. That is, the process of changing a SDU to a PDU, consists of an encapsulation process, performed by the lower layer. All the data contained in the SDU becomes encapsulated within the PDU. The layer n-1 adds headers or footers, or both, to the SDU, transforming it into a PDU of layer n-1. The added headers or footers are part of the process used to make it possible to get data from a source to a destination.
Trong Kết nối các hệ thống mở (OSI) thuật ngữ, một đơn vị dữ liệu dịch vụ (SDU) là một đơn vị dữ liệu đã được truyền từ một lớp OSI vào một lớp thấp hơn và đó vẫn chưa được đóng gói vào một đơn vị dữ liệu giao thức (PDU) bởi các lớp thấp hơn. Nó là một tập hợp các dữ liệu được gửi bởi một người sử dụng các dịch vụ của một lớp nhất định, và được truyền về ngữ nghĩa không thay đổi để sử dụng dịch vụ peer.
Nó khác với một PDU trong đó các PDU định các dữ liệu đó sẽ được gửi đến các lớp giao thức ngang hàng ở cuối nhận, hay khi được gửi đến một lớp thấp hơn.
SDU tại bất kỳ lớp, lớp cho 'n', là các PDU của lớp trên, lớp 'n + 1'. Trong thực tế các SDU là "tải trọng" của một PDU được. Đó là, quá trình thay đổi một SDU đến một PDU, bao gồm một quá trình đóng gói, thực hiện bởi các lớp thấp hơn. Tất cả các dữ liệu chứa trong SDU bị đóng gói trong các PDU. Các lớp n-1 cho biết thêm đầu hoặc cuối trang, hoặc cả hai, để các SDU, biến nó thành một PDU của lớp n-1. Các tiêu đề bổ sung hoặc cuối trang là một phần của quá trình sử dụng để làm cho nó có thể để có được dữ liệu từ một nguồn tới một đích đến.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)